Tiểu luận Thực trạng vai trò của Nhà nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam thời gian qua

Quy mô giáo dục không ngừng phát triển ở các nghành học, các cấp học. Nhưng sự phát triển không đồng đều qua các thời kì. Thời kì trước đổi mới giáo dục, giáo dục VIÊT NAM tuân theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Giáo dục và đào tạo được nhà nước cấp ngân sách hoàn toàn các chỉ tiêu giáo dục được đề ra trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội nhà nước có kế hoạch phân bổ và sử dụng lực lượng lao động đã qua đào tạo. Do đó mức tăng quy mô giáo dục do nhà nước hoạch định và năm sau luôn cao hơn năm trước. Thời kì đổi mới quy mô giáo dục có những biến động lớn lúc đầu có sự giảm sút đột ngột và sau đó tăng dần nhưng mức tăng không đáng kể. Theo số liệu của Tổng Cục thống kê thì năm học 1986-1987 cả nước có 12482, 9 nghìn học sinh phổ thông thì năm học 1990-1991 con số đó là 11882, 9 nghìn giảm 5%. Những năm sau số học sinh phổ thông đã tăng lên. So với tỉ lệ tăng dân số trong độ tuổi đi học thì mức tăng lượng học sinh đến trường không đáng kể. Nói khác đi là tỉ lệ học sinh trong độ tuổi đi học giảm đi, thí dụ năm học 86-87 cả nước có 910, 6 nghìn thì năm 90-91 chỉ còn 524, 2 nghìn, giảm 73%. Số học sinh trong độ tuổi đi học trung học liên tục giảm từ năm 90-93, phần lớn những người bỏ học là con em lao động nghèo hoặc con em nông dân họ trở thành lao động chính, một bộ phận khác là con em các gia đình thành thị họ cần có việc làm để nâng cao mức sống tìm việc làm trong các cơ sở tư nhân. Năm 1991-1992 là năm học chặn đứng tình trạng xuống cấp về quy mô giáo dục ở các cấp học. Trong hai năm học sau đó số lượng học sinh các cấp học phổ thông đã tăng lên với mức tăng hàng năm là 5%và 7%.

Quy mô giáo dục không ngừng phát triển ở các nghành học, các cấp học. Nhưng sự phát triển không đồng đều qua các thời kì. Thời kì trước đổi mới giáo dục, giáo dục VIÊT NAM tuân theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Giáo dục và đào tạo được nhà nước cấp ngân sách hoàn toàn các chỉ tiêu giáo dục được đề ra trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội nhà nước có kế hoạch phân bổ và sử dụng lực lượng lao động đã qua đào tạo. Do đó mức tăng quy mô giáo dục do nhà nước hoạch định và năm sau luôn cao hơn năm trước. Thời kì đổi mới quy mô giáo dục có những biến động lớn lúc đầu có sự giảm sút đột ngột và sau đó tăng dần nhưng mức tăng không đáng kể. Theo số liệu của Tổng Cục thống kê thì năm học 1986-1987 cả nước có 12482, 9 nghìn học sinh phổ thông thì năm học 1990-1991 con số đó là 11882, 9 nghìn giảm 5%. Những năm sau số học sinh phổ thông đã tăng lên. So với tỉ lệ tăng dân số trong độ tuổi đi học thì mức tăng lượng học sinh đến trường không đáng kể. Nói khác đi là tỉ lệ học sinh trong độ tuổi đi học giảm đi, thí dụ năm học 86-87 cả nước có 910, 6 nghìn thì năm 90-91 chỉ còn 524, 2 nghìn, giảm 73%. Số học sinh trong độ tuổi đi học trung học liên tục giảm từ năm 90-93, phần lớn những người bỏ học là con em lao động nghèo hoặc con em nông dân họ trở thành lao động chính, một bộ phận khác là con em các gia đình thành thị họ cần có việc làm để nâng cao mức sống tìm việc làm trong các cơ sở tư nhân. Năm 1991-1992 là năm học chặn đứng tình trạng xuống cấp về quy mô giáo dục ở các cấp học. Trong hai năm học sau đó số lượng học sinh các cấp học phổ thông đã tăng lên với mức tăng hàng năm là 5%và 7%.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

TIN KHUYẾN MÃI

  • Thư viện tài liệu Phong Phú

    Hỗ trợ download nhiều Website

  • Nạp thẻ & Download nhanh

    Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

  • Nhận nhiều khuyến mãi

    Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

NẠP THẺ NGAY