Tiểu luận Phân biệt thẩm quyền chung và thẩm quyền riêng của Tòa án Việt Nam trong việc giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài

Trong thẩm quyền chung ta thấy: do những vụ việc là đối tượng thuộc thẩm quyền xét xử chung của Tòa án là những vụ việc mà Tòa án nước đó có quyền xét xử nhưng Tòa án nước khác cũng có thể xét xử (điều này tùy thuộc vào tư pháp quốc tế của các nước khác có quy định là Tòa án nước họ có thẩm quyền với những vụ việc như vậy hay không). Khi mà Tòa án nhiều nước đều có thẩm quyền xét xử với một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài thì theo quy định của pháp luật Việt Nam, khi Tòa án nước ngoài thụ lý, giải quyết vụ việc có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền chung thì bản án, quyết định của họ có thể được công nhận và cho thi hành ở Việt Nam nếu đáp ứng được các yêu cầu mà pháp luật Việt Nam quy định (đã có hiệu lực pháp luật ở nước nơi ra phán quyết, các quy tắc về tố tụng của nước đã ra phán quyết phải được tuân thủ một cách triệt để và việc công nhận, cho thi hành không chống lại trật tự công cộng của Việt Nam). Ví dụ: theo quy định tại Điểm g Khoản 2 Điều 410 BLTTDS năm 2004, Tòa án Việt Nam có thẩm quyền chung đối với “vụ việc ly hôn mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân Việt Nam”. Do đó, nếu các bên đưa tranh chấp ra Tòa án nước ngoài thì bản án hoặc quyết định của Tòa án nước ngoài nếu đáp ứng được các điều kiện nêu trên thì sẽ được công nhận và cho thi hành ở Việt Nam.

Trong thẩm quyền chung ta thấy: do những vụ việc là đối tượng thuộc thẩm quyền xét xử chung của Tòa án là những vụ việc mà Tòa án nước đó có quyền xét xử nhưng Tòa án nước khác cũng có thể xét xử (điều này tùy thuộc vào tư pháp quốc tế của các nước khác có quy định là Tòa án nước họ có thẩm quyền với những vụ việc như vậy hay không). Khi mà Tòa án nhiều nước đều có thẩm quyền xét xử với một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài thì theo quy định của pháp luật Việt Nam, khi Tòa án nước ngoài thụ lý, giải quyết vụ việc có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền chung thì bản án, quyết định của họ có thể được công nhận và cho thi hành ở Việt Nam nếu đáp ứng được các yêu cầu mà pháp luật Việt Nam quy định (đã có hiệu lực pháp luật ở nước nơi ra phán quyết, các quy tắc về tố tụng của nước đã ra phán quyết phải được tuân thủ một cách triệt để và việc công nhận, cho thi hành không chống lại trật tự công cộng của Việt Nam). Ví dụ: theo quy định tại Điểm g Khoản 2 Điều 410 BLTTDS năm 2004, Tòa án Việt Nam có thẩm quyền chung đối với “vụ việc ly hôn mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân Việt Nam”. Do đó, nếu các bên đưa tranh chấp ra Tòa án nước ngoài thì bản án hoặc quyết định của Tòa án nước ngoài nếu đáp ứng được các điều kiện nêu trên thì sẽ được công nhận và cho thi hành ở Việt Nam.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

TIN KHUYẾN MÃI

  • Thư viện tài liệu Phong Phú

    Hỗ trợ download nhiều Website

  • Nạp thẻ & Download nhanh

    Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

  • Nhận nhiều khuyến mãi

    Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

NẠP THẺ NGAY