Tiểu luận Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của các quy định pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về phiên toà sơ thẩm dân sự

ở Miền Nam, trong thời gian dài Chính quyền bù nhìn Sài Gòn vẫn áp dụng những văn bản pháp luật cũ thời Pháp thuộc như Nghị định 16/3/1910, Dụ số 27 ngày 2/9/1954 về Toà Phá án, các đạo Dụ và Sắc lệnh khác ấn định thủ tục tố tụng mới đặc biệt điền địa (Dụ số 27 ngày 22/10/1956 và Sắc lệnh 27/1/1957), Dụ số 4 ngày 2/4/1953 về Toà án nhà phố, Dụ số 15 ngày 8/7/1952 về Toà án Lao động “Kể từ ngày 16/9/1954 ký kết hiệp định thâu hồi hoàn toàn chủ quyền tư pháp, Việt Nam chỉ còn duy trì Nghị định 16/3/1910 như luật tố tụng duy nhất áp dụng cho tất cả tụng nhân có việc kiện thưa trước toà án của ta, bất kể quốc tịch nào”. Tuy nhiên, Nghị Định 1910 được biên tập cho Toà án Pháp sử dụng để xét xử người bổn quốc nên để giải thích các điều khoản trong Nghị định 1910 chính quyền Sài Gòn phải tham chiếu các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 1806 của Pháp. Ngoài ra, án lệ cũng là một trong các nguồn để các Toà án giải thích pháp luật. [31, tr 22,23,24]. Theo quy định của các văn bản pháp luật nói trên, phiên toà xét xử các vụ việc dân sự phải mở công khai, những người tham dự phiên toà phải tuân thủ nội quy phiên toà, trình tự phiên toà được tiến hành theo các bước: kiểm tra căn cước, thẩm vấn, tranh luận, nghị án, tuyên án. Trong một vụ kiện hộ, hãn hữu mới thấy các luật sư tham gia. Sau khi hai bên đương sự đã tranh luận, Biện lý bày tỏ ý kiến về vụ kiện. Việc nghị án có khi mất nhiều ngày, giờ nên luật cho phép đến cuối phiên toà hoặc phiên xử khác để tuyên án nhưng phải báo trước ngày đọc án [31, tr 525,526,527]. Ngoài ra, các văn bản pháp luật thời kỳ này còn quy định về thủ tục xét xử khuyết tịch( vắng mặt các đương sự hoặc một trong các đương sự).

ở Miền Nam, trong thời gian dài Chính quyền bù nhìn Sài Gòn vẫn áp dụng những văn bản pháp luật cũ thời Pháp thuộc như Nghị định 16/3/1910, Dụ số 27 ngày 2/9/1954 về Toà Phá án, các đạo Dụ và Sắc lệnh khác ấn định thủ tục tố tụng mới đặc biệt điền địa (Dụ số 27 ngày 22/10/1956 và Sắc lệnh 27/1/1957), Dụ số 4 ngày 2/4/1953 về Toà án nhà phố, Dụ số 15 ngày 8/7/1952 về Toà án Lao động “Kể từ ngày 16/9/1954 ký kết hiệp định thâu hồi hoàn toàn chủ quyền tư pháp, Việt Nam chỉ còn duy trì Nghị định 16/3/1910 như luật tố tụng duy nhất áp dụng cho tất cả tụng nhân có việc kiện thưa trước toà án của ta, bất kể quốc tịch nào”. Tuy nhiên, Nghị Định 1910 được biên tập cho Toà án Pháp sử dụng để xét xử người bổn quốc nên để giải thích các điều khoản trong Nghị định 1910 chính quyền Sài Gòn phải tham chiếu các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 1806 của Pháp. Ngoài ra, án lệ cũng là một trong các nguồn để các Toà án giải thích pháp luật. [31, tr 22,23,24]. Theo quy định của các văn bản pháp luật nói trên, phiên toà xét xử các vụ việc dân sự phải mở công khai, những người tham dự phiên toà phải tuân thủ nội quy phiên toà, trình tự phiên toà được tiến hành theo các bước: kiểm tra căn cước, thẩm vấn, tranh luận, nghị án, tuyên án. Trong một vụ kiện hộ, hãn hữu mới thấy các luật sư tham gia. Sau khi hai bên đương sự đã tranh luận, Biện lý bày tỏ ý kiến về vụ kiện. Việc nghị án có khi mất nhiều ngày, giờ nên luật cho phép đến cuối phiên toà hoặc phiên xử khác để tuyên án nhưng phải báo trước ngày đọc án [31, tr 525,526,527]. Ngoài ra, các văn bản pháp luật thời kỳ này còn quy định về thủ tục xét xử khuyết tịch( vắng mặt các đương sự hoặc một trong các đương sự).

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

TIN KHUYẾN MÃI

  • Thư viện tài liệu Phong Phú

    Hỗ trợ download nhiều Website

  • Nạp thẻ & Download nhanh

    Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

  • Nhận nhiều khuyến mãi

    Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

NẠP THẺ NGAY