Tiểu luận Góp ý Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự: Việc rút yêu cầu của đương sự ở giai đoạn phúc thẩm

Chúng tôi cho rằng, quy định như vậy là không hợp lý bởi lẽ theo Khoản 2 Điều 254 BLTTDS, bản án sơ thẩm hoặc phần bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Như vậy, trong trường hợp trên, khi không có kháng cáo, kháng nghị, bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật và được đưa ra thi hành nên không thể chấp nhận cho nguyên đơn rút đơn khởi kiện được. Ngoài ra, cơ sở làm phát sinh thủ tục phúc thẩm là dựa trên kháng cáo, kháng nghị. Nếu không có kháng cáo, kháng nghị thì không thể có việc xét xử phúc thẩm. Do đó, trong trường hợp này, Tòa án không thể mở phiên tòa để hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án được. Để giải quyết vướng mắc này, có ý kiến cho rằng, “nguyên đơn rút đơn khởi kiện vào thời điểm vẫn còn thời hạn kháng cáo của đương sự thì Tòa án cấp sơ thẩm hướng dẫn cho đương sự kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm cùng với việc rút đơn khởi kiện để có căn cứ cho việc Tòa án cấp phúc thẩm tiến hành xét xử. Nếu đương sự kháng cáo hoặc Viện kiểm sát kháng nghị về toàn bộ bản án sơ thẩm và nguyên đơn rút đơn khởi kiện thì tùy thuộc vào ý kiến của bị đơn có đồng ý cho nguyên đơn rút đơn hay không mà Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 269 BLTTDS. Trường hợp sau khi có bản án sơ thẩm mà nguyên đơn rút đơn khởi kiện vào thời điểm đã hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị và cũng không có kháng cáo, kháng nghị đối với bản án sơ thẩm thì về nguyên tắc bản án sơ thẩm đã phát sinh hiệu lực pháp luật, do đó Tòa phúc thẩm không chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn”[2]. Chúng tôi thấy rằng,

Chúng tôi cho rằng, quy định như vậy là không hợp lý bởi lẽ theo Khoản 2 Điều 254 BLTTDS, bản án sơ thẩm hoặc phần bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Như vậy, trong trường hợp trên, khi không có kháng cáo, kháng nghị, bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật và được đưa ra thi hành nên không thể chấp nhận cho nguyên đơn rút đơn khởi kiện được. Ngoài ra, cơ sở làm phát sinh thủ tục phúc thẩm là dựa trên kháng cáo, kháng nghị. Nếu không có kháng cáo, kháng nghị thì không thể có việc xét xử phúc thẩm. Do đó, trong trường hợp này, Tòa án không thể mở phiên tòa để hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án được. Để giải quyết vướng mắc này, có ý kiến cho rằng, “nguyên đơn rút đơn khởi kiện vào thời điểm vẫn còn thời hạn kháng cáo của đương sự thì Tòa án cấp sơ thẩm hướng dẫn cho đương sự kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm cùng với việc rút đơn khởi kiện để có căn cứ cho việc Tòa án cấp phúc thẩm tiến hành xét xử. Nếu đương sự kháng cáo hoặc Viện kiểm sát kháng nghị về toàn bộ bản án sơ thẩm và nguyên đơn rút đơn khởi kiện thì tùy thuộc vào ý kiến của bị đơn có đồng ý cho nguyên đơn rút đơn hay không mà Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 269 BLTTDS. Trường hợp sau khi có bản án sơ thẩm mà nguyên đơn rút đơn khởi kiện vào thời điểm đã hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị và cũng không có kháng cáo, kháng nghị đối với bản án sơ thẩm thì về nguyên tắc bản án sơ thẩm đã phát sinh hiệu lực pháp luật, do đó Tòa phúc thẩm không chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn”[2]. Chúng tôi thấy rằng,

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

TIN KHUYẾN MÃI

  • Thư viện tài liệu Phong Phú

    Hỗ trợ download nhiều Website

  • Nạp thẻ & Download nhanh

    Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

  • Nhận nhiều khuyến mãi

    Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

NẠP THẺ NGAY