Trong những năm 90, ACAD là phần mềm được người thiết kếsửdụng phổbiến nhất. Nhìn vào hiện trạng sửdụng tại Việt Nam, ACAD được sửdụng nhưlà một công cụ đểvẽkỹthuật. CAD chỉcó ý nghĩa nhưlà Computer Aided Drawing. Một sốngười có khảnăng lập trình bằng AutoLisp đã phát triển thêm một sốlệnh chuyên ngành. Tuy nhiên, sựphát triển này cũng không thểhơn nữa vì thiếu những cơsởpháp lý mang tính vĩmô. Điều này được thểhiện cụthểqua sựviệc là đến nay Việt Nam vẫn chưa có một quy chuẩn về đặt tên Layer (Hiệp Hội Kiến Trúc SưHoa Kỳ đã ban hành tiêu chuẩn này từnăm 1994). Trước khi xuất bản ACAD 2000, AutoDesk có thửnghiệm một phiên bản gọi tên là Architectural Desktop. Phần mềm này là sựkết hợp giữa phần mềm ACAD và AEC (truớc đây của hãng SoftDesk). Đây là phiên bản dành riêng cho người thiết kếkiến trúc. Người sửdụng đón nhận phiên bản này một các nồng nhiệt vì họthấy rằng đây đúng là một phần mềm CAD đúng nghĩa (Computer Aided Design). Tuy nhiên, càng sửdụng họcàng thấy thiếu những công cụcần thiết. AutoDesk tiếp tục phát triển cho đến phiên bản Architectural Desktop 2006 được xem nhưlà phiên bản được sửdụng phổbiến nhất. Architectural Desktop là một phần mềm được phát triển dựa trên nền của phần ACAD nhưng theo hướng BIM (Building Information Modelling). Với phần mềm này, người thiết kếkiến trúc thay đổi hẳn cách làm việc của mình. Họkhông còn phải làm việc nhưkhi dùng phần mềm ACAD (phương pháp làm việc nhưvới bút Chương 1: Tổng quan vềcông trình & REVIT Trang 8 GVHD: Nguyễn ThịTâm Thanh SVTH: Phạm Hữu Tâm Đặng ThếVinh thước). Họkhông phải nghiên cứu đối tượng bằng mặt bằng, mặt đứng, mặt cắt mà chỉnghiên cứu hoàn toàn trên hình 3D. Tất cảnhững thông tin hình học nhưmặt bằng, mặt đứng, mặt cắt hay thông tin phi hình học nhưkhối lượng thiết kế, sốlượng vật tự đều được trích xuất tự động từmô hình 3D. CAD của ngành thiết kếkiến trúc đã trởthành một bộmôn mới của ngành tin học và mang tên CAADD (Computer Aided Architectural Design and Database). Tuy nhiên, do dựa trên phần mềm ACAD nên Architectual Desktop có những hạn chếnhư: một sốchi tiết kiến trúc (nhưmái vòm) không thể được nhưphần mềm thiết kếtự động theo hướng BIM; muốn sửdụng phần mềm phải sửdụng được ACAD; nắm bắt được chương trình đểphục vụcho công việc thiết kếkhông phải là một việc dễdàng. Ngoài ra, sựhiểu biết sâu sắc và đầy đủmột sốlệnh nhưPedit, Line, Poyline, Xef của ACAD là rất cần thiết đểsửdụng được Architectural Desktop. Có lẽrằng, đây chính là nguyên nhân đểnhững người thiết kếkiến trúc của Việt Nam tuy thấy được những lợi ích quá thiết thực của Architectuarl Desktop cho công việc của mình, nhưng sửdụng khá hạn chế. Đến đầu năm 2006, với phiên bản Revit Building, người thiết kếkiến trúc trên thếgiới đã có một công cụkhá lý tưởng cho công việc hàng ngày của mình. Tuy là một sản phẩm của một hãng phần mềm quen thuộc là AutoDesk, nhưng người thiết kếkiến trúc Việt Nam rất ít biết đến. Có nhiều nguyên nhân, nhưng có lẽnguyên nhân quan trọng nhất là không đểý đến một trong những cơsởlý luận quan trọng đểRevit xuất hiện và nhận được sự đón nhận nồng nhiệt của thếgiới là khuynh hướng BIM trong ngành công nghiệp xây dựng. ỞViệt Nam chúng ta, việc quản lý sốlượng vật tưvà thay đổi nhanh chóng các phương án thiết kếcủa một dựán gặp rất nhiều khó khăn. Có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chủyếu là khâu thiết kếkhông có một công cụtính toán khối lượng thiết kếmột các nhanh chóng và đáng tin cậy mà hầu nhưdựa hoàn toàn vào con người. Nếu người thiết kếsửdụng các phần mềm theo khuynh hướng BIM đểthiết kếthì khối lượng sẽ được tính toán một cách tự động và hoàn toàn chính xác theo những gì xuất hiện trên màn hình. Với Revit, khảnăng tạo hình khối dáng cũng nhưcác chi tiết phong phú và linh động hơn nhiều so với các phần mềm CAD. Ngoài ra, những việc nhưthống kê khối vật liệu có mặt trong công trình sẽ được phần mềm tự động sản sinh. Hồsơthiết kếkỹthuật được phần mềm quản lý một cách chặt chẽvà chính xác. Và không chỉcó vậy, người sửdụng có được tất cảnhững thông tin hình học và phi hình học của công trình tại bất thời điểm kỳcủa quá trình xây dựng. Vì những đặc điểm này, một sốnhà chuyên môn vềxây dựng gọi đây là phần mềm 4D (3D + chiều thời gian).
Trong những năm 90, ACAD là phần mềm được người thiết kếsửdụng phổ
biến nhất. Nhìn vào hiện trạng sửdụng tại Việt Nam, ACAD được sửdụng nhưlà
một công cụ đểvẽkỹthuật. CAD chỉcó ý nghĩa nhưlà Computer Aided Drawing.
Một sốngười có khảnăng lập trình bằng AutoLisp đã phát triển thêm một sốlệnh
chuyên ngành. Tuy nhiên, sựphát triển này cũng không thểhơn nữa vì thiếu những
cơsởpháp lý mang tính vĩmô. Điều này được thểhiện cụthểqua sựviệc là đến
nay Việt Nam vẫn chưa có một quy chuẩn về đặt tên Layer (Hiệp Hội Kiến Trúc Sư
Hoa Kỳ đã ban hành tiêu chuẩn này từnăm 1994).
Trước khi xuất bản ACAD 2000, AutoDesk có thửnghiệm một phiên bản gọi
tên là Architectural Desktop. Phần mềm này là sựkết hợp giữa phần mềm ACAD
và AEC (truớc đây của hãng SoftDesk). Đây là phiên bản dành riêng cho người
thiết kếkiến trúc. Người sửdụng đón nhận phiên bản này một các nồng nhiệt vì họ
thấy rằng đây đúng là một phần mềm CAD đúng nghĩa (Computer Aided Design).
Tuy nhiên, càng sửdụng họcàng thấy thiếu những công cụcần thiết. AutoDesk tiếp
tục phát triển cho đến phiên bản Architectural Desktop 2006 được xem nhưlà phiên
bản được sửdụng phổbiến nhất.
Architectural Desktop là một phần mềm được phát triển dựa trên nền của phần
ACAD nhưng theo hướng BIM (Building Information Modelling). Với phần mềm
này, người thiết kếkiến trúc thay đổi hẳn cách làm việc của mình. Họkhông còn
phải làm việc nhưkhi dùng phần mềm ACAD (phương pháp làm việc nhưvới bút
Chương 1: Tổng quan vềcông trình & REVIT Trang 8
GVHD: Nguyễn ThịTâm Thanh SVTH: Phạm Hữu Tâm
Đặng ThếVinh
thước). Họkhông phải nghiên cứu đối tượng bằng mặt bằng, mặt đứng, mặt cắt
mà chỉnghiên cứu hoàn toàn trên hình 3D. Tất cảnhững thông tin hình học nhưmặt
bằng, mặt đứng, mặt cắt hay thông tin phi hình học nhưkhối lượng thiết kế, số
lượng vật tự đều được trích xuất tự động từmô hình 3D. CAD của ngành thiết kế
kiến trúc đã trởthành một bộmôn mới của ngành tin học và mang tên CAADD
(Computer Aided Architectural Design and Database). Tuy nhiên, do dựa trên phần
mềm ACAD nên Architectual Desktop có những hạn chếnhư: một sốchi tiết kiến
trúc (nhưmái vòm) không thể được nhưphần mềm thiết kếtự động theo hướng
BIM; muốn sửdụng phần mềm phải sửdụng được ACAD; nắm bắt được chương
trình đểphục vụcho công việc thiết kếkhông phải là một việc dễdàng. Ngoài ra, sự
hiểu biết sâu sắc và đầy đủmột sốlệnh nhưPedit, Line, Poyline, Xef của ACAD
là rất cần thiết đểsửdụng được Architectural Desktop.
Có lẽrằng, đây chính là nguyên nhân đểnhững người thiết kếkiến trúc của
Việt Nam tuy thấy được những lợi ích quá thiết thực của Architectuarl Desktop cho
công việc của mình, nhưng sửdụng khá hạn chế.
Đến đầu năm 2006, với phiên bản Revit Building, người thiết kếkiến trúc trên
thếgiới đã có một công cụkhá lý tưởng cho công việc hàng ngày của mình. Tuy là
một sản phẩm của một hãng phần mềm quen thuộc là AutoDesk, nhưng người thiết
kếkiến trúc Việt Nam rất ít biết đến. Có nhiều nguyên nhân, nhưng có lẽnguyên
nhân quan trọng nhất là không đểý đến một trong những cơsởlý luận quan trọng
đểRevit xuất hiện và nhận được sự đón nhận nồng nhiệt của thếgiới là khuynh
hướng BIM trong ngành công nghiệp xây dựng.
ỞViệt Nam chúng ta, việc quản lý sốlượng vật tưvà thay đổi nhanh chóng
các phương án thiết kếcủa một dựán gặp rất nhiều khó khăn. Có nhiều nguyên
nhân, nhưng nguyên nhân chủyếu là khâu thiết kếkhông có một công cụtính toán
khối lượng thiết kếmột các nhanh chóng và đáng tin cậy mà hầu nhưdựa hoàn toàn
vào con người. Nếu người thiết kếsửdụng các phần mềm theo khuynh hướng BIM
đểthiết kếthì khối lượng sẽ được tính toán một cách tự động và hoàn toàn chính
xác theo những gì xuất hiện trên màn hình.
Với Revit, khảnăng tạo hình khối dáng cũng nhưcác chi tiết phong phú và
linh động hơn nhiều so với các phần mềm CAD. Ngoài ra, những việc nhưthống kê
khối vật liệu có mặt trong công trình sẽ được phần mềm tự động sản sinh. Hồsơ
thiết kếkỹthuật được phần mềm quản lý một cách chặt chẽvà chính xác. Và không
chỉcó vậy, người sửdụng có được tất cảnhững thông tin hình học và phi hình học
của công trình tại bất thời điểm kỳcủa quá trình xây dựng. Vì những đặc điểm này,
một sốnhà chuyên môn vềxây dựng gọi đây là phần mềm 4D (3D + chiều thời
gian).
<p>Lời cảm ơn 3</p> <p>Mục lục 4</p> <p>Lời mở đầu 5</p> <p>Chương 1: Tổng quan</p> <p>1.1 Giới thiệu 6</p> <p>1.2 Nhiệm vụ 6</p> <p>1.3 Nội dung luận văn ...
<p>MỤC LỤC</p> <p></p> <p>LỜI CẢM ƠN</p> <p>PHẦN I: TỔNG QUAN</p> <p>CHƯƠNG I: CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT TINH BỘT SĂN</p> <p>CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH VÀ LỰA CHỌN THIẾ ...
<p></p> <p>TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI 1</p> <p>LỜI NÓI ĐẦU 2</p> <p>CHƯƠNG 1. LÝ THUYẾT VỀ MÔ PHỎNG 3</p> <p>HỆ THỐNG LIÊN TỤC 3</p> <p>1.1.Khái niệm ...
<p></p> <p>Lời nói đầu 1</p> <p>Chương 1: THIẾT KẾ CÔNG NGHỆ 3</p> <p>1. Lựa chọn cơ cấu tổ chức. 3</p> <p>2 Lựa chọn quy trình công nghệ sửa chữa 3</p> <p ...
<p>Xác định lỗi chính và chế độ sẵn sàng ,báo động:</p> <p>-Khối sẽ đưa ra tín hiệu báo động nếu như 1 trong 2 van bị lỗi hoặc không có tín hiệu báo mạch điêù ...
Hỗ trợ download nhiều Website
Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay
Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay