Chuyên đề Sở hũu chung hợp nhất trong quan hệ hôn nhân theo quy định của luật hôn nhân gia đình năm 2000 và các văn bản hướng dẫn thực hiện

Hiến pháp 1992 ra đời, thừa nhận 3 thành phần sở hũu và xác lập 5 thành phần kinh tế đã có tác dụng thúc đẩy sự phát triển đất nước. Sự bất hợp lý của chế định tài sản chung vợ chồng trong luật HNGĐ 1986 bộc lộ nhiều bất cập và hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của chủ sở hữu trong quan hệ hôn nhân, dẫn đến hạn chế tính năng động trong hoạt động kinh tế, mặt khác, không tạo được một hành lang pháp lý an toàn để bảo vệ tài sản riêng xuất hiện sau thời điểm đăng ký kết hôn. Quy định của nhà lập pháp tại khoản 2 điều 27 luật HNGĐ năm 2000 theo quy tắc hệ thống, không thể đi ngược lại với quy định của bộ luật dân sự, đã tạo một sự bảo vệ pháp lý đối với tài sản riêng của công dân mua trong thời kỳ hôn nhân. Với 3 quy phạm được quy định tại 3 khoản của điều 27 luật hôn nhân gia đình năm 2000, luận điểm “ có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng “ đã thật sự cáo chung. Tài sản chung của vợ chồng đã được nhà lập pháp chia ra 2 đường lối xử lý rõ rệt:- Với tài sản có giá trị lớn, có giấy chứng nhận rõ ràng: loại tài sản này được khoản 1 và khoản 2 điều 27 luật HNGĐ 2000 đồng thời tác động. Có thể xác định rằng, khoản 1 và khoản 2 điều 27 luật HNGĐ có mối quan hệ biện chứng trong một chỉnh thể thống nhất, không thể tách rời.- Khoản 3 điều 27 luật HNGĐ 2000 là trường hợp khác của sở hữu chung hợp nhất trong quan hệ hôn nhân: sự mô hình hóa điều luật đã chứng minh một cách rõ ràng phạm vi điều chỉnh của khoản 3 điều 27 luật HNGĐ 2000. Loại tài sản không có giấy chứng nhận và không có chứng cứ thông thường giá trị không lớn, việc truy tìm nguồn gốc không đơn giản, không gây ảnh hưởng lớn đến lợi ích hợp pháp của người khác nhiều nếp phải chia nhầm nên vì lợi ích chung của xã hội, thể hiện tính nhân đạo của luật pháp, nhà lập pháp đã chia đôi tất cả tài sản dạng này.

Hiến pháp 1992 ra đời, thừa nhận 3 thành phần sở hũu và xác lập 5 thành phần kinh tế đã có tác dụng thúc đẩy sự phát triển đất nước. Sự bất hợp lý của chế định tài sản chung vợ chồng trong luật HNGĐ 1986 bộc lộ nhiều bất cập và hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của chủ sở hữu trong quan hệ hôn nhân, dẫn đến hạn chế tính năng động trong hoạt động kinh tế, mặt khác, không tạo được một hành lang pháp lý an toàn để bảo vệ tài sản riêng xuất hiện sau thời điểm đăng ký kết hôn.

Quy định của nhà lập pháp tại khoản 2 điều 27 luật HNGĐ năm 2000 theo quy tắc hệ thống, không thể đi ngược lại với quy định của bộ luật dân sự, đã tạo một sự bảo vệ pháp lý đối với tài sản riêng của công dân mua trong thời kỳ hôn nhân.

Với 3 quy phạm được quy định tại 3 khoản của điều 27 luật hôn nhân gia đình năm 2000, luận điểm “ có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng “ đã thật sự cáo chung.

Tài sản chung của vợ chồng đã được nhà lập pháp chia ra 2 đường lối xử lý rõ rệt:

- Với tài sản có giá trị lớn, có giấy chứng nhận rõ ràng: loại tài sản này được khoản 1 và khoản 2 điều 27 luật HNGĐ 2000 đồng thời tác động. Có thể xác định rằng, khoản 1 và khoản 2 điều 27 luật HNGĐ có mối quan hệ biện chứng trong một chỉnh thể thống nhất, không thể tách rời.

- Khoản 3 điều 27 luật HNGĐ 2000 là trường hợp khác của sở hữu chung hợp nhất trong quan hệ hôn nhân: sự mô hình hóa điều luật đã chứng minh một cách rõ ràng phạm vi điều chỉnh của khoản 3 điều 27 luật HNGĐ 2000. Loại tài sản không có giấy chứng nhận và không có chứng cứ thông thường giá trị không lớn, việc truy tìm nguồn gốc không đơn giản, không gây ảnh hưởng lớn đến lợi ích hợp pháp của người khác nhiều nếp phải chia nhầm nên vì lợi ích chung của xã hội, thể hiện tính nhân đạo của luật pháp, nhà lập pháp đã chia đôi tất cả tài sản dạng này.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

TIN KHUYẾN MÃI

  • Thư viện tài liệu Phong Phú

    Hỗ trợ download nhiều Website

  • Nạp thẻ & Download nhanh

    Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

  • Nhận nhiều khuyến mãi

    Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

NẠP THẺ NGAY